Công tác Hợp tác quốc tế góp phần tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

14:50 13/09/2019
xem cỡ chữ
T
T
lượt xem: 0
  1. Hợp tác quốc tế nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của Học viện

Hợp tác quốc tế là một trong những hoạt động góp phần thực hiện sứ mệnh của Học viện. Học viện hiện có quan hệ với hơn 200 đối tác quốc tế, hàng trăm nhà khoa học, chuyên gia, cố vấn chính sách của hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Hằng năm, Học viện tổ chức hơn 200 đoàn ra và vào, trong khuôn khổ kinh phí thường xuyên phục vụ nhiệm vụ nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học, các đoàn thuộc các chương trình nghiên cứu, đề tài khoa học các cấp và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và quản lý. 

Các đối tác chính và chủ yếu của Học viện, bao gồm các thiết chế học thuật, đại sứ quán các nước1, hơn 20 tổ chức quốc tế (Liên hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Liên minh châu Âu...); và hàng trăm trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới, trải dài khắp 5 châu và vùng lãnh thổ2. Bên cạnh đó, Học viện có quan hệ hợp tác với hơn 30 các đảng cầm quyền và đảng chính trị và các Quỹ của một số Đảng chính trị trên thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Nam Phi; Đảng Đại hội dân tộc Nam Phi; Đảng Frelemo Mozambique; Đảng Dân chủ xã hội Thụy Điển; Đảng Xã hội dân chủ Đức (SPD); Quỹ IRZ, Rosa Lucxemburg Đức; Đảng Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI của Venezuela; các Đảng cánh tả ở Mỹ Latinh và một số nước khác trên thế giới.

Các hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học hằng năm thu hút hàng trăm lượt các chuyên gia quốc tế đến Học viện tham gia tiến hành những nghiên cứu chung về những chủ đề mà hai bên cùng quan tâm, tiêu biểu là các dự án: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Nhà nước quản lý bằng pháp luật ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào” (với Lào); “Xây dựng Đảng: lý luận và thực tiễn” (với Trường Đảng Trung ương Trung Quốc); “Chương trình đối tác chia sẻ kinh nghiệm vì tầm nhìn Việt Nam” và “Chương trình Nông thôn mới” giữa Việt Nam và Hàn Quốc; “Nghiên cứu chính sách công” (Nhật Bản); “Nghiên cứu các trào lưu xã hội dân chủ” (FES, Đức); “Toàn cầu hóa và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”;  “Xây dựng đời sống cộng đồng làng xã Việt Nam”; “Kinh nghiệm khai thác các nguồn lực phát triển ở Nhật Bản” (Nhật Bản), “Chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ”; “Hỗ trợ tuyên truyền, vận động về dân số và phát triển” (UNDP); “Hỗ trợ nâng cao năng lực nghiên cứu và giảng dạy của Trung tâm Nghiên cứu quyền con người” (Australia, Thụy Điển, Đan Mạch); “Truyền thông xã hội và sự tham gia của nhân dân” (Đại học Vienna, Áo, Liên minh châu Âu); “Nhà nước pháp quyền và quản trị hiệu quả” (Vương quốc Anh); “Bình đẳng giới và lãnh đạo nữ” (Ailen, Australia); “Lãnh đạo học và chính sách công trong kỷ nguyên cách mạng 4.0” (Pháp); “Giai cấp công nhân hiện đại” (Rosa Luxemburg, Đức);...

Thông qua các dự án hợp tác nghiên cứu khoa học, hàng trăm lượt nhà khoa học quốc tế đến Học viện trao đổi và làm việc với các nhà khoa học trong toàn hệ thống Học viện; chia sẻ tri thức và trao đổi kinh nghiệm phát triển, xây dựng, đổi mới khung chương trình đào tạo, phương pháp quản lý đào tạo, kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học, đăng bài báo quốc tế... góp phần trực tiếp vào đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và tham vấn chính sách cho Trung ương Đảng và Chính phủ của Học viện.

Trong 5 năm (2014-2019), Học viện đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế tiến hành hàng trăm tọa đàm, hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế ở trong và ngoài nước, với sự tham gia của hàng nghìn lượt cán bộ của hệ thống Học viện, các bộ, ban ngành ở Trung ương và địa phương, các chuyên gia và nhà khoa học hàng đầu quốc tế. Đáng lưu ý là các hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, như: Tổ chức diễn đàn cấp cao về xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam nằm trong khuôn khổ dự án hợp tác nghiên cứu chính sách “So sánh Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam và phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc”; Dự án “Chương trình đối tác chia sẻ kinh nghiệm phát triển (DEEP) vì tầm nhìn Việt Nam” giai đoạn 2016-2018 do Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) tài trợ; Hội thảo quốc tế về “Lãnh đạo học và chính sách công” giữa Học viện với Hội Nhà khoa học và chuyên gia quốc tế người Việt tại Pháp đồng tổ chức vào mùa Thu năm 2018; Hội thảo quốc tế Kỷ niệm 200 năm Ngày sinh C.Mác; Hội thảo quốc tế Kỷ niệm 170 năm Ngày ra đời Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản; Hội thảo quốc tế “100 năm chủ nghĩa xã hội hiện thực: thành tựu và triển vọng” giữa các nhà khoa học của Trung Quốc, Lào tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong năm 2018; Hội thảo quốc tế 4 bên giữa Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Lào và Viện Khoa học Xã hội quốc gia Lào; Hội thảo quốc tế về “55 năm quan hệ Việt - Lào” tại Bình Thuận (2017); Hội thảo quốc tế “Tư tưởng Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam và tư tưởng Cayxỏn Phômvihản với cách mạng Lào” tại Viêng Chăn Lào (2017); Hội thảo quốc tế “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam và Lào” tại Hải Phòng (3-2019); Tổ chức gần 100 tọa đàm, hội nghị, hội thảo khoa học về các chủ đề khác có liên quan tại hệ thống Học viện, bao gồm các hội thảo, tọa đàm quốc tế tại Học viện Trung tâm và các Học viện trực thuộc về các vấn đề như: khoa học chính trị, lãnh đạo học và chính sách công, quản lý kinh tế, quản lý công, pháp luật quốc tế về quyền con người, tôn giáo, nữ quyền, bình đẳng giới, khoa học báo chí và truyền thông, chính sách đối ngoại và hợp tác phát triển...

Hội thảo Hội thảo khoa học quốc tế: “Quản lý nhà nước bằng pháp luật thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp lần thứ 4 ở Việt Nam và Lào” do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội quốc gia Lào và Thành uỷ Hải Phòng tổ chức vào tháng 3/2019

  1. Những kết quả đạt được và một số kinh nghiệm

Các hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học đã thu hút sự tham gia của các cá nhân, tổ chức khoa học quốc tế, đạt được những kết quả quan trọng:

Thứ nhất, kết quả hợp tác quốc tế về khoa học thông qua sự tham gia của các chuyên gia và tổ chức quốc tế góp phần trực tiếp vào phục vụ nhiệm vụ đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức tại hệ thống Học viện và các trường chính trị tỉnh/thành trong cả nước; nâng cao rõ rệt vị thế của Học viện trong khu vực và trên trường quốc tế. Trong quá trình hợp tác nghiên cứu, giao lưu trao đổi, các cán bộ của Học viện đã nâng cao về tri thức cũng như kinh nghiệm, kỹ năng và phương pháp nghiên cứu và phương pháp quản lý đào tạo. Kết quả nghiên cứu từ các dự án, đề tài hợp tác quốc tế phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện.

Thứ hai, hợp tác quốc tế về khoa học thông qua sự tham gia của các chuyên gia và tổ chức quốc tế góp phần trực tiếp vào việc nâng cao năng lực nghiên cứu và tham vấn chính sách cho đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống Học viện. Thông qua hợp tác quốc tế, các cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của Học viện có điều kiện giao lưu, trao đổi học thuật với các nhà khoa học quốc tế đến từ các nước có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn như Nga, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Ấn Độ, Singapore v.v... Một số kết quả nghiên cứu từ các dự án, đề tài khoa học quốc tế đã góp phần trực tiếp vào các kiến nghị cho Trung ương Đảng và Chính phủ về những vấn đề như con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quản trị nhà nước, cải cách hành chính, dân chủ, quyền con người, phát triển bền vững, đánh giá hiệu quả chính phủ. 

Thứ ba, hợp tác quốc tế về khoa học thông qua sự tham gia của các chuyên gia và tổ chức quốc tế góp phần nâng cao và mở rộng khả năng hội nhập quốc tế của đội ngũ nhà khoa học tại Học viện. Năng lực nghiên cứu, trình độ ngoại ngữ của các cán bộ Học viện được nâng cao rõ rệt. Thông qua hợp tác quốc tế về khoa học, nhiều nhà khoa học Học viện đã mở rộng các cơ hội tham gia hội thảo, hội nghị và diễn đàn quốc tế, có bài viết trình bày tại các sự kiện quốc tế; đồng thời, các nhà khoa học trong Học viện, nhất là các nhà khoa trẻ có cơ hội xã hội hóa các công trình và kết quả nghiên cứu trên các tạp chí và ấn phẩm quốc tế; góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Học viện trên trường quốc tế.

Thứ tư, hợp tác quốc tế về khoa học thông qua sự tham gia của các chuyên gia và tổ chức quốc tế từng bước góp phần tăng cường cơ sở vật chất của hệ thống Học viện, phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy của Học viện, như dự án với KOICA của Hàn Quốc về thư viện điện tử tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; dự án với Học viện Báo chí và Tuyên truyền...

Thứ năm, hợp tác quốc tế góp phần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như những hoạt động nghiên cứu, giảng dạy của toàn Học viện với bạn bè, cộng đồng quốc tế, thông qua trao đổi đoàn học giả, các chính khách và học viên, cũng như phổ biến rộng rãi được hiệu quả các ấn phẩm của Học viện (nhất là tiếng Anh), qua đó đã góp phần ngày càng mở rộng đối tác của Học viện.

Thứ sáu, hợp tác quốc tế về khoa học thông qua sự tham gia của các chuyên gia và tổ chức quốc tế góp phần hiệu quả và tích cực vào việc tăng cường đối ngoại nhân dân, tăng cường hợp tác giữa các nhà khoa học, giáo dục; đồng thời, củng cố và làm sâu sắc mối quan hệ hợp tác hữu nghị toàn diện giữa Học viện với các đối tác truyền thống, góp phần vun đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

Tọa đàm châu Âu và châu Á: Chiến lược kết nối và bối cảnh Liên minh châu Âu hiện nay do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp cùng Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam tổ chức vào tháng 4/2019

Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học còn một số hạn chế: 

Thứ nhất, lực lượng cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng và kinh nghiệm nghiên cứu quốc tế và khả năng ngoại ngữ thành thạo của hệ thống Học viện còn nhiều hạn chế về số lượng và chất lượng, sự tham gia còn khiêm tốn, thụ động và không đồng đều giữa các đơn vị. Một số đơn vị chủ động tìm kiếm đối tác, đề xuất dự án, nhưng cũng có những đơn vị còn chưa tích cực. 

Thứ hai, công tác chuyên môn hóa và chuyên sâu, chuyên nghiệp hóa trong hoạt động hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác quốc tế về khoa học nói riêng còn hạn chế. Nhiều đơn vị trực thuộc Học viện chưa có cán bộ phụ trách hay chuyên sâu về hợp tác quốc tế; Học viện chưa hình thành được các nhóm, đội ngũ nghiên cứu quốc tế mạnh, chuyên sâu. Hiện có không ít những nghiên cứu viên trẻ và có trình độ, được đào tạo và tốt nghiệp ở nước ngoài, nhưng chưa hình thành mạng lưới và nhóm liên kết, chưa có sự tham gia tích cực, chủ động vào công tác nghiên cứu khoa học nói chung và hợp tác quốc tế về khoa học nói riêng.

Thứ ba, các kết quả nghiên cứu chưa được chú trọng hướng tới tham vấn chính sách trực tiếp cũng như chưa được chuyển hóa mạnh mẽ vào nâng cao chất lượng và phương pháp đào tạo. Số lượng các nhà khoa học và các bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc tế của Học viện còn rất khiêm tốn và hạn chế (ước tính chỉ khoảng 5-7% trên tổng số hơn 1.000 cán bộ nghiên cứu và giảng viên của toàn hệ thống Học viện có bài viết tại hội thảo, hội nghị quốc tế hay tạp chí quốc tế). 

Thứ tư, chưa có cơ chế động viên, khuyến khích kịp thời cho việc mở rộng, tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, cũng như đối với việc xã hội hóa các công trình nghiên cứu quốc tế... của các nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học trẻ. Đồng thời, kinh phí phân bổ để thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học quá ít, chưa tương xứng với tiềm năng hợp tác quốc tế.

Từ những kết quả nên trên, có thể đúc rút một số kinh nghiệm về hợp tác quốc như sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy và Ban Giám đốc Học viện đối với công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của hệ thống Học viện, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của Học viện; quản lý thống nhất hoạt động hợp tác quốc tế trong toàn hệ thống Học viện; tiếp tục việc quán triệt thực hiện phương châm “Kỷ cương - Đồng bộ - Đổi mới - Hiệu quả”  (2016) và phương châm “Đột phá - Sáng tạo - Chất lượng - Hiệu quả”(2017), “Dân chủ - Đồng bộ - Sáng tạo - Chất lượng” (2018), và “Đoàn kết - Dân chủ - Sáng tạo - Hiệu quả” (2019) trong công tác hợp tác quốc tế của Học viện. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa Vụ Quản lý khoa học và Vụ Hợp tác quốc tế trong tham mưu Đảng ủy và Ban Giám đốc trong thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phục vụ đào tạo và tham vấn chính sách của Học viện.

Thứ hai, Học viện sớm xây dựng và ban hành chiến lược phát triển Học viện trong đó xác định tầm nhìn, định hướng và những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác hợp tác quốc tế từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn năm 2045; các hoạt động hợp tác quốc tế cần được xây dựng thống nhất và hiệu quả; cần bám sát chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác đối ngoại. Tiếp tục chú trọng việc duy trì, củng cố và phát triển quan hệ hợp tác với các đối tác truyền thống của Học viện, đặc biệt với nước bạn Lào, đa dạng hóa các hình thức và phương thức hợp tác với các đối tác nước ngoài phù hợp xu thế hội nhập quốc tế; đồng thời, tăng cường mở rộng các đối tác mới là những cơ quan khoa học quản lý và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực và trên thế giới. Các dự án, đề tài nghiên cứu quốc tế, các hội nghị, hội thảo, tọa đàm khoa học quốc tế, các đoàn ra và đoàn vào... cần được xây dựng, tổ chức thực hiện bám sát vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng yếu phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chiến lược phát triển của Học viện, góp phần tham mưu tích cực cho việc xây dựng và hoàn thiện các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.    

Thứ ba, hoàn thiện quy chế quản lý thống nhất, đồng bộ về công tác đối ngoại toàn hệ thống Học viện; xây dựng đề án đổi mới công tác đối ngoại theo tinh thần quán triệt thực hiện Văn kiện Đại hội XII của Đảng, các quy định mới của Đảng và Nhà nước; xây dựng và ban hành chiến lược hợp tác quốc tế; gắn kết các chiến lược về công tác cán bộ, chiến lược đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chiến lược quản lý khoa học với chiến lược hợp tác quốc tế để tăng cường tính thống nhất và chặt chẽ của hệ thống. Đồng thời, Vụ Hợp tác quốc tế tham mưu Đảng ủy, Ban Giám đốc rà soát, chỉnh sửa và bổ sung quy chế hợp tác quốc tế trong bối cảnh hiện nay (với những quy định mới của Bộ Chính trị, Trung ương và Chính phủ, như Quyết định số 272/QĐ-TW, Chỉ thị số 38/CT-TW, Hướng dẫn số 01/HD-TW... Nghị định số 76 của Chính phủ...), để phù hợp với công tác quản lý hoạt động hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác quốc tế về khoa học nói riêng.

Thứ tư, Vụ Quản lý khoa học cần phối hợp chặt chẽ với Vụ Hợp tác quốc tế để tham mưu Ban Giám đốc Học viện xây dựng cơ chế khuyến khích và hỗ trợ các nhà khoa học của Học viện, nhất là các nhà khoa học trẻ, tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học... như tăng cường kinh phí hỗ trợ cho các nhà khoa học đi tham dự hội thảo nước ngoài, hỗ trợ cho các nhà khoa học xuất bản và xã hội hóa kết quả nghiên cứu quốc tế...; tăng kinh phí hoạt động khoa học của các đơn vị trực thuộc Học viện trong xây dựng và thu hút sự tham gia của các chuyên gia và tổ chức quốc tế.

Thứ năm, tăng cường cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp giữa các nhóm nghiên cứu quốc tế với toàn bộ hệ thống Học viện, thông qua các tọa đàm, hội nghị, hội thảo chia sẻ kết quả nghiên cứu quốc tế; tăng cường cơ chế phối hợp giữa các vụ chức năng, đơn vị khoa học và trực thuộc Học viện với Vụ Hợp tác quốc tế, đặc biệt là Vụ Quản lý khoa học và các viện, Học viện trực thuộc; cần có cơ chế khuyến khích sự tham gia của các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế nước ngoài vào quá trình xây dựng, thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế.

Thứ sáu, tăng cường tính tích cực, chủ động của các đơn vị chuyên môn và tham mưu của hệ thống Học viện, đặc biệt là các Học viện trực thuộc và các viện nghiên cứu, vào việc thu hút các nhà khoa học, chuyên gia và tổ chức quốc tế trong hợp tác nghiên cứu khoa học.

Thứ bảy, nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế, trước hết là trình độ ngoại ngữ (nhất là tiếng Anh) thành thạo, năng lực xây dựng, thực hiện và điều hành các dự án, chương trình nghiên cứu quốc tế của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia và nhà khoa học của Học viện thông qua việc tăng cường các hoạt động chia sẻ tri thức, trao đổi và giao lưu học thuật giữa các cá nhân, tổ chức quốc tế và Học viện.

Thứ tám, tăng cường quản lý hệ thống, đồng bộ, hiệu quả và chất lượng các hoạt động hợp tác quốc tế trong thu hút các cá nhân và tổ chức khoa học nước ngoài của toàn hệ thống Học viện; tăng cường việc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và giám sát hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và thu hút các cá nhân và tổ chức quốc bảo đảm đúng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; đặc biệt bảo đảm các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương về công tác hợp tác quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay.

PGS,TS Hoàng Văn Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Ghi chú:

1) Học viện hiện có quan hệ hợp tác với hơn 200 đối tác quốc tế đại diện hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó bao gồm các tổ chức chính trị, đảng chính trị và cầm quyền, các tổ chức đa phương và song phương, các cơ quan tham vấn chính sách và thiết chế học thuật của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

2) Hơn 30 nước có quan hệ chính thức dưới hình thức các cam kết, thỏa thuận hay biên bản ghi nhớ hợp tác quốc tế với Học viện bao gồm, Lào, Trung Quốc, Cuba, Mehico, Liên bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa Pháp, Đức, Anh, Áo, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Ban Lan,  Hoa Kỳ, Canada, Australia, New Zealand, Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy,  Israel, Nam Phi, Mozambique...

3) Các trường đại học và viện nghiên cứu, cơ quan tham vấn chính sách (think-tank) như: Đại học Harvard, Boston, Nam California, George Washington, Indiana, Portland, John Hopins, Brookings, Elliot School... (Hoa Kỳ); Đại học Birmingham, Manchester và London (Vương quốc Anh); Đại học New South Wales, Sydney, Melbourne, Đại học Quốc gia của Australia; Học viện Hành chính quốc gia và bang Bangalore (Ấn Độ); Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga (Viện Viễn Đông); Đại học Xanh Petecbua (Nga); Trường Hành chính quốc gia Cộng hòa Pháp (ENA); Trường Hành chính quốc gia trực thuộc Tổng thống Kazackhstan; Trường Đảng Trung ương Trung Quốc; Đại học Bắc Kinh; Đại học Thanh Hoa; Đại học Phúc Đán; Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Lào; Viện Khoa học xã hội Lào; Đại học Tokyo, Đại học Kyoto; Cơ quan Nhân sự quốc gia Nhật Bản (NPA); Cơ quan hợp tác quốc tế JICA (Nhật Bản); Đại học Yonsei, Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Sungkungkwang (Hàn Quốc); Đại học Quốc gia Singapore và Đại học Nanyang (Singapore); Đại học Mahidol và Chulalongkorn, Viện Hoàng gia (Thái Lan)...